Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2011

Bài 58; Bài 59 (Đạo xử thế)

Bài 58
Xử thế không nên giống người tục,
cũng không nên khác người tục

      Một người cao thượng thiết nghĩ, cách nhìn đối với sự thế dễ bị thiên kiến, phải giữ cách sống ôn hoà mới không bị người đời ganh ghét; một người sự nghiệp công danh thành đạt, phải giữ đức tính khiêm tốn hoà nhã, mới không bị người đời đố kỵ.
      Xử thế vừa không thể hùa với người xấu làm việc xấu, cũng không được kiêu căng lập dị, làm ra vẻ thanh cao, cố ý khác với mọi người; làm việc gì, vừa không được để mọi người căm ghét, cũng không được a dua nịnh hót lấy lòng người khác.
     Khổng Tử nói: Không ở chức vị đó, thì không nên đi làm thay cho người ở chức vị đó. Quân tử mỗi người chuyên một chức vị, nên chăm chú làm tốt công việc thuộc chức vị của mình.
     Cần nghiêm trị những người giành quan chiếm chức, quản việc không đâu. Có một sự việc đáng nhớ như sau: Hàn Chiêu Hầu có một lần uống rượu say gục ngủ trên bàn, người hầu mũ sợ Chiêu Hầu lạnh nên lấy chiếc áo khoác lên người Chiêu Hầu. Hàn Chiêu Hầu chợt tỉnh giấc, nhìn thấy trên mình có khoác thêm chiếc áo, vui mừng hỏi người bên cạnh: "Ai khoác áo cho ta"? Người bên cạnh trả lời: "Là người hầu mũ". Hàn Chiêu Hầu nghe vậy liền hạ lệnh trị tội người hầu mũ và cả người hầu áo, vì người hầu mũ lại đi quản việc của người hầu áo.
     Tôi cho rằng: Làm việc không tốt đáng chịu tội; làm việc quá chức năng đáng xử chết. Hành pháp phải chú trọng việc phân định địa vị tuyệt đối trong quyền thuật chính trị.

Hàn Phi Tử (Chiến Quốc)

Bài 59
Chớ nói quá lời

      Đánh người chớ nên đánh mặt, mắng người chớ có cạn lời. Khi công kích hay trách mắng người khác, phải nghĩ đến thể diện của đối phương, không nên gây thù chuốc oán.
     Lời nói không được xâm phạm đến chuyện riêng tư của người khác, đùa giỡn không được xúc phạm đến điều tối kỵ của người khác. Châm chọc chuyện riêng tư của người khác, xúc phạm đến điều tối kỵ của người khác, cho dù là vô tình cũng sẽ chuốc lấy oán hận.
     Bàn tán về khuyết điểm của người khác, một khi lọt vào tai họ tất sẽ nuôi hận trong lòng; hay kể lể ân huệ cho người khác, sẽ khiến người chịu ân huệ đâm ra oán hận. Thích nói xấu người khác, người khác cũng sẽ nói xấu lại; hay thù ghét người khác, người khác cũng sẽ thù ghét lại.
     Người tuỳ tiện hoài nghi người khác, người khác cũng sẽ hoài nghi lại; người luôn đề phòng cảnh giác người khác, người khác cũng sẽ đề phòng cảnh giác lại. Người chân thành, không hoài nghi người khác, người khác cũng tín nhiệm họ.
     Lời nói tốt đẹp, quan tâm thấu hiểu mọi người, sẽ khiến người ta cảm thấy ấm áp hơn chăn áo; dùng lời nói làm xúc phạm tổn hại đến mọi người, càng đáng sợ hơn binh khí. Lời nói nịnh hót trước mặt, người nghe sẽ không hẳn tỏ ra vui sướng; lời nói bôi nhọ sau lưng, người bị nói xấu biết được sẽ ghi tâm khắc cốt.
    Ta căm ghét người, người cũng sẽ căm ghét ta; ta thờ ơ với mọi người, mọi người cũng sẽ thờ ơ với ta. Sự yêu thương và tôn trọng giữa người với người đều là qua lại với nhau.
     Quở trách hay phanh phui chuyện riêng tư hay khơi dậy những sai lầm quá khứ của người, sẽ gây thù kết oán. Gây thù với tiểu nhân, tiểu nhân sẽ có người đối đầu lại; nịnh hót lấy lòng người quân tử, người quân tử sẽ không vì vậy mà nể tình riêng. Kẻ tiểu nhân tâm thuật bất chính, thủ đoạn đê hèn, gây thù với họ thì hậu hoạ sẽ khôn lường.
     Gia ân huệ cho ai mà mong có ngày họ báo đáp lại, thì kết quả sẽ gây oán với họ, chẳng thà không gia ân thì tốt hơn. Quan hệ với người mà luôn muốn người khác mang ân đội đức, thì sẽ chuốc lấy oán hận của người khác; gặp nguy nan ra tay cứu giúp người trừ hại, chính là khởi điểm có lợi cho mình. Lời hứa tốt với người khác từ cửa miệng, mà thực tế không thực hiện được, như vậy sẽ bị sự oán hận của người đời. Khi tức giận, tối kỵ nhất là vạch trần điều xấu của người khác, chỉ trích chuyện riêng tư, công khai xúc phạm những sai trái của bậc trên. Vì một khi lên cơn tức giận, cứ mặc sức tuôn ra cho hả giận, lại không biết đối phương vì vậy mà oán hận đến xương tuỷ. Cổ nhân có nói: Lời nói hại người, còn lợi hại hơn cả binh khí, quả thật đúng như vậy. "Thiện ngôn lương ý, nghiêm đông noãn; ác ngữ thương nhân, lục nguyệt hàn", nghĩa là: Lời tốt ý lành, mùa đông cũng cảm thấy âm lòng; lời ác hại người, tháng sáu cũng cảm thấy giá lạnh.

Vương Dĩnh Khuê (Đời Thanh)

Bài 60; Bài 61 (Đạo xử thế)

Bài 60
Tham tài tích oán hoạ hoạn không xa

       Một không tham tài, hai không gây oán, ngủ cũng yên giấc, đi cũng tự nhiên. Người xưa nói: tham tài tích oán, chiêu tai rước hoạ; ngược lại thì trong lòng thản nhiên, hành động thoái mái.
       Hậu đãi với người tất nhiên sẽ được người báo đáp, kết oán càng nhiều thì chuốc lấy hoạ hoạn càng sâu. Cho ít mà mong báo đáp nhiều, gây oán nhiều mà mong không có hoạ hoạn, chuyện đó xưa nay không hề có.
      Gây thù kết oán với người, chính là gieo mầm hoạ cho chính mình; việc tốt đáng làm mà không làm, tức khác nào tự làm hại mình.
      Làm nhục người khác đến mức không chịu được, tất sẽ bị người khác phản kháng làm nhục lại ta; làm hại người khác quá mức, rồi sẽ có ngày người khác sẽ làm hại lại ta.
     Đôi bên thù hận lẫn nhau, dễ gây ra mối hoạ khôn lường.

Lã Khôn (Đời Minh)     

Bài 61
Muốn biết người phải quan sát lời nói và hành động

     Muốn hiểu rõ một người phải quan sát lời nói và hành động. Nghe người nói phải nắm rõ bản ý của họ; nhìn người làm, phải đối chiếu kết quả; quan sát phẩm hạnh của người khác, phải xem xét thành tích thực tế của họ.
     Người hay hứa, lời nói không đáng tin. Người nói biết chưa hẳn đã làm được; người làm được không hẳn hỏi đã nói là biết. Người to mồm lớn tiếng chưa hẳn là người dũng cảm; người nói năng nhỏ nhẹ chưa hẳn là kẻ nhu nhược. Người im lặng ít nói không hẳn là kẻ ngu xuẩn; người nói nhiều không hẳn là người thông minh. Người không nghe lời không hẳn là kẻ bạc tình, bội nghĩa; người biết nghe lời, làm vừa lòng người khác chưa hẳn là người trung thành. Nhìn người nên vào lúc gặp việc lớn và việc khó xem có đảm nhiệm được không; vào lúc nghịch cảnh và thuận cảnh xem lòng dạ và khí độ; qua cử chỉ ăn nói với mọi người để xem kiến thức. Từ những việc lợi hại có thể biết được phẩm hạnh tiết tháo của người; từ những việc hỷ nộ có thể biết được khả năng kiềm chế tình cảm của người. Người hạ mình, chiều lòng người khác hoàn toàn không thật tâm cầu lễ nghi; người mua danh bán tước thực tế hoàn toàn không thông minh. Phương pháp quan sát người, không có gì bằng quan sát đôi mắt, vì đôi mắt không thể che giấu những điều xấu trong lòng. Người quang minh chính đại, ánh mắt sáng sủa; người tâm địa bất chính, ánh mắt mờ ám. Khi nghe người nói chuyện, chú ý quan sát nhân thần, đối phương thiện ác tốt xấu khó có thể che giấu.
     Đánh giá con người nên bình luận phải trái, không nên kể đến thành công hay thất bại. Cách đánh giá con người là: đối với người địa vị cao quý, phải xem hành động của họ có thích hợp không; đối với người giàu, phải xem việc bố thí của họ có khẳng khái không; đối với người không đắc chí phải xem họ có coi trọng việc nghĩa không; đối với người có địa vị thấp phải xem họ có coi trọng lễ tiết không; đối với người bần cùng phải xem họ có từ chối tiền của không đáng nhận không. Trải qua hoạn nạn mới biết được con người dũng cảm hay không; uỷ thác lợi lộc mới biết được hành vi phẩm chất của con người; uỷ thác tiền tài mới biết được con người có nhân đức hay không; trải qua chuyện kinh sợ mới biết khí tiết của con người.
    Công tội phải sai của một con người, phải đợi đến lúc kết thúc sinh mệnh mới có thể kết luận được; con người có giữ được tiết tháo hay không, chỉ có đến lúc lâm đại sự mới biểu hiện ra.

Tư Mã Quang (Bắc Tống)

Bài 62; Bài 63 (Đạo xử thế)

Bài 62
Đánh giá con người phải xét từ tâm

    Chuyện nghi kỵ ngờ vực giữa mọi người với nhau không ngừng phát sinh, có thể do người ngoài độc mồm xúi giục chia rẽ, hoặc do đôi bên bất đồng ý kiến. Thường do một câu nói không đâu đẫn đến tranh luận gay gắt, do một chút lợi ích không đáng gì mà chia rẽ anh tôi, từ đó chống đối lẫn nhau, mâu thuẫn phát sinh, nói ra quả thực khiến người ta phải đau lòng. Cổ nhân có nói: Đánh giá một con người, phải xét từ trong tâm, không nên dựa theo cái vết. Ý nói khi đánh giá về những sai lầm của người khác, nên tìm rõ nguyên nhân từ bên trong, không nên chỉ đi truy cứu hành vi bản thân. Người giỏi khơi gợi tư tưởng người khác, nên bắt đầu từ đạo lý làm cho người khác hiểu, dần dần giáo dục khuyên bảo để họ giác ngộ mà không cần dùng thủ đoạn cưỡng bức để đối phó tinh thần chống đối.
     Phê bình sai lầm của người khác không được quá khắt khe, phải nghĩ xem người đó có tiếp thu được hay không; dạy người hành thiện bất tất yêu cầu quá cao, mà nên làm sao để họ có đủ khả năng thực hiện. Khuyên người sửa lỗi không nên chỉ trích thẳng mặt, mà trước hết nên khẳng định sở trường của họ, khiến họ vui lòng, rồi họ mới nghe những lời phê bình khuyên bảo, nếu không thì họ sẽ chống đối và phẫn nộ, lời khuyên khó có thể đạt được hiệu quả.
    Không trách mắng nặng nề khi người khác không đạt được mục tiêu do thiếu năng lực, không cưỡng ép người khác làm điều mà họ không thể làm được, không yêu cầu người khác phải tiếp nhận những cái mà họ không thích. Đánh giá một người trước hết nên khẳng định tán dương sở trường của người đó, như vậy sở đoản của họ không nói cũng tự lộ ra.

Uy Nhân (Đời Thanh)

Bài 63
Lòng khoan dung rộng lượng

    Núi lớn không đưa ra tiêu chuẩn tốt xấu, nhờ vậy mà có thể dung nạp các loại đất đá để chất thành núi cao; sông ngòi biển cả không từ chối các dòng suối đổ vào, nhờ vậy mới tạo nên biển nước mênh mông. Làm người cần có lòng rộng lượng, thâu gom tất cả, gom góp những cái hay ở muôn nơi, mới có thể mở rộng kiến thức tài năng.
     Người quân tử đối nhân xử thế nên truy cầu một chữ "khoan" (rộng rãi). Thế nhưng "khoan" ở đây không phải nhìn sự việc không vừa ý một cách bao dung, càng không phải buông thả phóng đãng, vừa không phải bỏ mặc chẳng đoái hoài, cũng không phải giả mù giả điếc, mà phải dùng bồi dưỡng học vấn, rèn luyện sự đời, để đạt đến cảnh giới tinh thần không có gì là không khoan.
    Làm người phải mở rộng lòng dung nạp sự vật, giữ nhân cách độc lập và chủ kiến của mình; làm người phải khoan dung mà trang trọng, nhu hoà mà tài năng, chính trực mà bình dị, dễ gần gũi.
    Mở rộng tấm lòng khoan dung vạn vật thiên hạ, khiêm tốn trịnh trọng tiếp nhận những cái hay trong thiên hạ, bình tâm bàn luận chuyện thiên hạ, tập trung tâm trí quan sát tình lý thiên hạ, trấn định tinh thần thích ứng với các biến đổi trong thiên hạ.
    Bậc quân tử tôn trọng người hiền tài, cũng dung nạp người tầm thường, khích lệ người có tài năng, cũng chấp nhận người có năng lực yếu.

Nguỵ Chinh (Đời Đường)

Bài 64; Bài 65 (Đạo xử thế)

Bài 64
Tu dưỡng thân tâm là căn bản của làm việc

     Thương Thang hỏi Y Doãn làm thế nào mới có thể trị vì thiên hạ tốt, Y Doãn trả lời: "Nếu chỉ nghĩ đến việc trị vì thiên hạ tốt, thì không thể trị vì thiên hạ tốt được; nếu muốn trị vì thiên hạ tốt, trước hết phải tu dưỡng thân tâm bản thân cho thật tốt".
    Vốn làm việc gì, trước hết phải tu thân, hoàn thiện bản thân. Huống hồ là việc trị vì quốc gia?
    Thánh vương các triều đại trước đây, hoàn thiện bản thân trước, đại nghiệp thiên hạ mới đạt được thành công; tu dưỡng thân tâm trước, đại cuộc thiên hạ mới được yên ổn thái bình. Hẳn là, âm thanh vọng hồi nghe hay, không phải là tại hồi thanh, mà tại âm thanh phát ra hay; ảnh nhìn đẹp không phải là tại ảnh, mà tại bản thân hình thể tạo ra ảnh đẹp; trị vì thiên hạ không phải là ở chỗ trị vì thiên hạ như thế nào, mà ở chỗ tu dưỡng và hoàn thiện bản thân (tiếng hay thì âm thanh vọng lại hay, hình ngay thì bóng thẳng, thân chính thì thiên hạ trị).
    Thấu rõ được lẽ thì có thể thấy được tình huống chân thực và chính xác; biết được tình huống chân thực và chính xác thì sự việc sẽ được xử lý xác đáng; xử lý sự việc xác đáng thì đương nhiên sẽ công thành danh toại.
    Nếu muốn hơn người khác, trước hết phải khắc chế bản thân; nếu muốn bình luận người khác, trước hết phải tự bình luận bản thân; nếu muốn hiểu người khác, trước hết phải hiểu bản thân. Ở một chỗ mà trị vì thiên hạ tốt, điều này e rằng chỉ có người biết tu dưỡng bản thân và có khả năng tự biết mình mới làm được. Lời nói của người có tu dưỡng quyết không càn quấy; lời bàn luận của người có tri thức quyết không tuỳ tiện, bậy bạ. Người có tu dưỡng và có tri thức nói và bàn luận nhất định phù hợp với đạo lý và nguyên tắc.
    Sự hình thành của sự vật đều có nguyên nhân nhất định. Nếu không biết nguyên nhân hình thành ra nó, thì cho dù có lúc đi sát thực tế sự vật, về cơ bản cũng như lúc không đi sát thực tế sự vật, kết quả tất nhiên sẽ bị sự vật đó quấy nhiễu.
    Bất kỳ sự việc gì phải cầu ở mình trước, tức tự mình phải đặt câu hỏi vì sao? Chỉ có thật sự hiểu rõ sự vật này sở dĩ là nguyên nhân của sự vật kia, mới có thể đi vào vương quốc tự do, không đến nỗi bị sự vật quấy nhiễu.
    Nước từ núi chảy ra biển, không phải vì nước ghét núi mà tìm ra biển, mà do địa thế núi cao biển thấp khiến nó phải như vậy; hoa màu sống ở đồng ruộng mà cất trữ vào trong kho, hoàn toàn không phải do hoa mà thích như vậy, mà do mọi người đều cần đến nó.
    Đem đống vàng và nắm xôi đặt ở trước mặt đứa trẻ, đứa trẻ nhất định cầm lấy nắm xôi; đem ngọc bích và vàng đặt trước mặt người dung tục, người dung tục nhất định sẽ lấy vàng; đem ngọc bích và danh ngôn chí lý liên quan đến phương diện đạo đức đặt trước mặt hiền nhân, hiền nhân nhất định sẽ chọn danh ngôn chí lý. Từ đó mới đủ biết người trí tuệ càng tinh thâm thì thứ họ chọn lấy sẽ càng quý giá; người trí tuệ càng thấp kém thì thứ họ chọn lấy càng thô bỉ.

Lã Bất Vi (Chiến Quốc)

Bài 65
Nghệ thuật sử dụng sở trường của người

    Ngày trước Y Doãn mở mang xây dựng, dùng người lưng khoẻ để khuân vác đất, dùng người một mắt để đẩy xe, dùng người gù lưng để tô quét,... Mỗi người, được làm công việc thích hợp với mình, từ đó khả năng mỗi người được phát huy hết mức. Quản Trọng khi tiến cử người tài cho Tề Hoan Công đã nói: "Về các loại lễ nghi của triều ban, tôi không bằng Âm Bằng, xin để ông ta làm chức đại hành đi; về khai hoang lập địa, phát huy địa lợi hết mức, phát triển nông điền, tôi không bằng Dĩnh Lang, xin để ông ta đảm nhiệm chức đại điền đi; về thu hút nhân tài, có khả năng khiến cho ba quân tướng sỹ xem cái chết như không thì tôi không bằng Vương Tứ Thành Phụ, xin để ông đảm nhiệm chức đại tư mã đi; về xử lý án kiện, làm theo phép công, không lạm sát người vô tội, không xử oan người tốt, thì tôi không bằng Tân Tư Vô, xin để ông ta giữ chức đại lý đi; về tận trung tận lực, cương trực thẳng thắn, không sợ quyền quý, lấy cái chết để tranh đấu thì tôi không bằng Đông Quách Nha, xin để ông ta giữ chức đại gián đi. Ngài nếu muốn nước giàu quân mạnh, thế thì có năm người này là đủ rồi; nếu muốn hoàn thành bá nghiệp, thế thì phải tin vào Quản Trọng ta". Hoàng Thạch Công nói: "Bổ dụng người có mưu trí, có dũng khí, tham tài, ngu đần, để người trí tranh tài lập công, để người dũng được toại kỳ chí, để người tham phát tài, để người ngu không ngại hy sinh. Căn cứ vào tính cách mỗi người để sử dụng họ, đây chính là quyền mưu tối vi diệu khi dùng binh".
    "Hoài Nam Tử" nói: "Những thứ trong thiên hạ không có gì độc bằng vị thuốc phụ tử, nhưng thầy thuốc giỏi lại cất nó để dùng, vì nó có giá trị dùng thuốc độc đáo; con mi lộc khi ở trên núi, con hoãng giỏi chạy nhảy cũng không đuổi kịp nó, đến khi nó xuống núi thì đứa trẻ cũng đuổi bắt được nó. Ý nói ở trong môi trường khác nhau, bất kỳ tài năng nào cũng có cái sở trường và sở đoản của nó. Ví dụ như người Hồ giỏi cưỡi ngựa, nhưng đổi sang đi bộ thì quá khó khăn".
    Căn cứ vào đạo lý đó, Nguỵ Vũ Đế Tào Tháo hạ chiếu nói: "Người có lòng tiến thủ chưa hẳn có đức hạnh; người có đức hạnh chưa hẳn có lòng tiến thủ. Trần Bình đâu có phẩm đức trung hậu gì? Tô Tần đâu từng giữ lòng tín nghĩa? Nhưng Trần Bình lại xây dựng ổn định được cơ nghiệp của vương triều Hán, Tô Tần lại cứu vớt nước Yên khỏi suy vong. Nguyên nhân chính là ở chỗ họ phát huy được sở trường đặc biệt của mình".
    Từ đó mà xét nghĩ, để Hàn Tín làm mưu sĩ, để Đổng Trọng Thư đi đánh trận, để Vu Công đi du thuyết, để Lục Giả đi xử án, ắt hẳn không có ai lập lên công huân hiển hách như vậy, cũng không để lại tiếng thơm cho đến ngày nay. Do đó, nguyên tắc "sử dụng sở trường" không thể không nghiên cứu kỹ.
    Hoàn Phạm thời Nguỵ nói: "Nguyên tắc dùng người của đế vương là xem xét thời thế, sử dụng nhân tài hợp lý. Khi đánh dẹp thiên hạ, dùng người biết về chiến lược quân sự là chính; khi thiên hạ thái bình, sử dụng trung thần nghĩa sĩ là chính. Hán Cao Tổ Lưu Bang sử dụng mưu trí của Trần Bình, đến khi lâm trung lại đem trọng trách củng cố chính quyền phó thác cho Chu Bột". Lời xưa có câu: "Thời kỳ hoà bình, trao chức vị cao quý cho người phẩm đức cao thượng; thời kỳ chiến tranh, người lập chiến công nhiều được trọng thưởng". Gia Cát Lượng nói: "Lão Tử giỏi về dưỡng sinh, nhưng không giỏi về giải cứu nguy nạn; Thương Ưởng giỏi về pháp trị, nhưng không giỏi về thi hành giáo hoá đạo đức; Tô Tần và Trương Nghị giỏi về du thuyết, nhưng không thể dựa vào họ để ký kết hiệp ước đồng minh; Bạch Khởi giỏi về đánh thành chiếm đất, nhưng không giỏi về đoàn kết dân chúng; Ngũ Tử Tư giỏi mưu đồ địch quốc, nhưng không giỏi bảo toàn tính mạng của mình. Vĩ Sinh biết thủ, nhưng không thể biến ứng; Phương sĩ Vương Gia thời tiền Tần giỏi về tri ngộ minh chủ, nhưng không thể để ông ta phụng hầu hôn quân; Hứa Tử Tương giỏi bình luận thế yếu mạnh tốt xấu của người khác, nhưng không thể cậy vào ông ta để tuyển mộ nhân tài". Đó chính là nghệ thuật sử dụng sở trường của người.

Triệu Nhuỵ (Đời Đường)

Bài 66; Bài 67 (Đạo xử thế)

Bài 66
Từ - Kiệm - Hoà - Tĩnh, vừa ích mình, lại lợi người.

    Cổ nhân luận về đạo trường thọ của một người có bốn điểm: hiền từ, tiết kiệm, ôn hoà và thanh tĩnh.
    Một người nếu có lòng từ đối với ngoại vật, không làm bất cứ việc gì làm tổn hại đến người khác, không nói bất cứ lời gì đụng chạm đến người khác, yêu quý người và vật, giữ thái độ ôn hoà, trong người mang trái tim từ tường nhân hậu, từ đó mà không mạo phạm đến bất hoà âm dương, cho nên có thể sống trường thọ.
    Chuyện hưởng thụ hạnh phúc của đời người đều có phần cả, người biết quý trọng và giữ gìn hạnh phúc thì hạnh phúc sẽ đến với họ càng nhiều; người tuỳ tiện chà đạp lên hạnh phúc, dễ đi đến chỗ đánh mất tất cả. Vì thế, Lão Tử nhà tư tưởng thời Xuân Thu chủ trương lấy chữ "kiệm" làm vốn quý. Kiệm ở đây không chỉ là tiết kiệm về mặt tiêu xài tiền của, mà nó bao hàm ý nghĩa tất cả mọi sự việc đều nên thường xuyên nghĩ đến tính tiết kiệm. Tiết kiệm về mặt ăn uống thì tì vị được điều hoà; tiết kiệm về mặt dục vọng thì hội tinh tụ thần; tiết kệm về mặt lời nói thì đỡ hao khí huyết, bớt chuyện thị phi; tiết kiệm về mặt kết bạn thì có thể chọn được bạn tốt, giảm mắc sai lầm; tiết kiệm về mặt quan hệ, giao lưu thì thân và tâm không mệt mỏi; tiết kiệm về mặt uống rượu thì giữ được phẩm chất con người tốt đẹp; tiết kiệm về mặt suy nghĩ thì tránh được phiền não bấn loạn. Tất cả mọi sự việc, nếu tiết kiệm được một phần thì sẽ có ích thêm một phần.
    Trong thơ của Bạch Cư Dị thi nhân đời Đường có câu: "Ta có lời này xin người nhớ lấy, trên thế gian người tự chuốc lấy khổ não rất nhiều". Con người, nếu thường xuyên giữ được tâm tính ôn hoà vui vẻ, thì tâm khí sẽ lưu thông, ngũ tạng được điều hoà, đây chính là phương pháp dưỡng tinh thần mà người ta đã nói trước đây. Hà Văn Đoan Công lúc còn tại thế, ở quê có vị lão nhân làm lễ mừng thọ trăm tuổi, Hà Công hỏi vị lão nhân về đạo dưỡng sinh, người đó trả lời: "Là người ở thôn quê ta không biết gì về phép dưỡng sinh, chỉ biết một điều là suốt đời luôn luôn vui vẻ hoan lạc, không hề biết đến phiền não". Điều đó đối với người tham cầu danh lợi lẽ nào có thể thực hiện được sao?
     Trong sách "tả truyện" có viết" "Người nhân nghĩa không có dục vọng nên tâm tĩnh". Lại viết: "Người đa trí ngày ngày cầu tiến thủ nên tâm động". Thường thì những người tâm khí nóng nảy, hành động nôn nóng đa số không thọ được lâu.
     Người xưa nói tuổi thọ của nghiên lấy thế kỷ để tính, tuổi thọ của bút dùng ngày để tính, tuổi thọ của mực dùng giờ để tính. Ý chỉ ở đây chính là sự khác biệt của động và tĩnh, hai là cảnh lòng không dễ bị kích động. Gặp đến mọi chuyện gian khó hỷ lạc bi ai, bên ngoài đối phó theo lệ thường, trong lòng ninh tĩnh không xao động, giống như hồ nước sâu phẳng lặng trong suốt thấy đáy, như vậy thì mọi thứ rối rắm bên ngoài không thể tác động đến thân tâm.
     Bốn phương diện "từ, kiệm, hoà, tĩnh", đối với đạo dưỡng sinh có ý nghĩa vô cùng thiết thực, còn hơn vạn lần uống thuốc trị bệnh hay các loại thuốc bổ sâm nhung. Muốn kéo dài tuổi thọ, nên lấy bốn điều trên làm căn bản, không nên bỏ đi cái căn bản để theo đuổi những phương pháp không căn bản khác. Nội dung chủ yếu trong "Đạo đức kinh" của Lão Tử không nằm ngoài bốn phương diện trên, như một bài học nên phải thuộc lòng, thường xuyên đem thể nghiệm thì sẽ rất có ích.

Trương Anh (Đời Thanh).

Bài 67
Thịnh cực tất suy

     Sự luân chuyển của bốn mùa xuân hạ thu đông, sự tuần hoàn của nắng nóng rét lạnh, sự xuay chuyển của sinh trưởng và suy tàn, đều diễn biến theo các quy luật của tự nhiên, con người cũng không nằm ngoài quy luật đó. Cuộc đời của con người thích ứng với thiên thời, khoảng ba bốn mươi tuổi trở lại, giống như khoảng mùa hạ (hạ trưởng) trở lại trong một năm, mọi cái đều dần dần tăng trưởng; từ ba bốn mươi tuổi trở đi, giống như mùa hạ trở đi trong một năm, mọi cái đều dần dần suy tàn, sự biến đổi đó diễn ra một cách không ngừng. Ở bước ngoặt giữa hưng thịnh và suy tàn đó không có một thời gian xác định, con người khoảng ba bốn mươi tuổi, quan sát râu tóc là có thể nhân biết được. Nếu suy lão muộn thì tuổi thọ sẽ dài; nếu suy lão sớm thì tuổi thọ sẽ ngắn. Cơ thể con người không thể không suy lão, suy lão nửa người trên trước rồi đến nửa người dưới thì tuổi thọ thường dài, do đó người xưa xem tóc rụng sớm là đặc trưng cho người trường thọ. Suy não từ nửa người dưới trước rồi đến nửa người trên thì tuổi thọ thường ngắn, cho nên những người râu tóc còn y nguyên mà hai chân đã yếu thì coi như khó trị. Sự hưng thịnh và suy vong của gia cảnh của con người cũng như vậy, nhất định không có quy luật bất biến như thịnh mãi, suy mãi, hoặc không thịnh không suy, Giống như cây đơm hoa, hoa nở đến lúc cực thịnh cũng là lúc bắt đầu héo tàn. Con người cố công bảo vệ để cây sinh trưởng thuận theo tự nhiên; rất sợ hoa nở sớm, vì sớm nở sẽ chóng tàn.
    Tập tính sinh trưởng của thảo mộc cũng phù hợp với quy luật của tự nhiên. Cây mai nở hoa vào mùa đông, xem mùa đông là mùa xuân của nó; đào mận nở hoa vào mùa xuân, nó lấy mùa xuân là mùa xuân của nó; thạch lựu và hoa sen nở hoa vào mùa hạ, nó lấy mùa hạ là mùa xuân của nó; hoa cúc, hoa quế và hoa phù dung lại nở hoa vào mùa thu, nó coi mùa thu là mùa xuân của nó. Có thể nói, quan sát thể nghiệm các hiện tượng tự nhiên của thiên địa, vạn vật cũng là một điều lý thú.

Trương Anh (Đời Minh) 

Bài 68; Bài 69 (Đạo xử thế)

Bài 68
Đề phòng người cạnh mình

     Đối xử bề tôi quá thân cận, thế nào cũng nguy hại đến vua; bề tôi địa vị quá cao, nhất định sẽ lật đổ giành lấy ngôi vua; thê thiếp không phân thứ bậc, nhất định sẽ nguy cho chi trưởng; dân chúng không phục, ắt sẽ nguy hại cho quốc gia.
     Người cạnh mình rất dễ ra tay làm hại.
     Người bị giam trong tình huống bị giám sát nhất định, họ mới cảnh giác và sợ hãi; ở trong tình huống phải nhận lấy hình phạt nhất định, họ mới không giám tái phạm. Ở trong tình huống không thể bị phát hiện, họ sẽ làm càn; ở trong tình huống không bị trừng phạt, họ sẽ hoành hành.
     Pháp luật không nghiêm, kẻ gian may mắn. Đối với người xấu việc xấu, chỉ có thẳng tay trừng trị may ra mới dẹp được, nếu không thì sẽ loạn.
     Ngăn chặn triệt để tham vọng bất chính của người khác, phá trừ âm mưu của người khác, không để cho họ nảy sinh dục vọng tham cầu lợi ích.
     Vua đối với bề tôi phải có thái độ cứng rắn, không những phải ngăn cản họ có hành vi nguy hại đến quân quyền, mà còn cấm họ có tham vọng tranh đoạt quân quyền. Cũng như vậy, dụng binh phải chú trọng tấn công trên mặt trận tư tưởng, chính trị.
     Vua bị hại, phải nghĩ đến người được lợi trong đó; bề tôi bị hại, phải nghĩ đến người ngược lại với cái hại của họ.
Thời Hàn Chiêu Hầu, đầu bếp dâng thức ăn lên, trong canh lại có miếng gan sống, Chiêu Hầu lập tức gọi người giúp việc của đầu bếp lên và quát máng: "Tại sao người bỏ miếng gan sống này vào trong canh!". Người giúp việc cúi đầu nhận tội: "Tôi muốn mượn cớ đó để giá hoạ cho người đầu bếp, nhằm thay thế chức của ông ta". Hàn Chiêu Hầu sở dĩ nhanh chóng phán đoán chính xác như vậy, là nhờ áp dụng lý luận ở trên.
     Thợ đóng xe, làm xe tốt thì mong người khác giàu sang; thợ đóng quan tài, làm quan tài tốt thì mong người khác chết sớm. Đây không phải là thợ đóng xe nhân từ và thợ đóng quan tài độc ác; bởi người khác không giàu sang thì xe không bán được; người khác không chết thì quan tài không ai mua. Do hành nghề khác nhau mà dẫn đến lợi ích khác nhau, do lợi ích khác nhau mà dẫn đến ham muốn khác nhau, đó là mặt trọng yếu của mâu thuẫn xã hội.
     Người bình thường ham muốn thành công, ngược lại bị thất bại, là do không hiểu đạo lý mà không chịu đi thỉnh giáo người hiểu biết, không chịu nghe ý kiến của người có tài năng.
     "Đạo lý" nói ở đây có thể lý giải riêng rẽ: "đạo" là phép tắc phổ biến, "lý" là quy luật đặc thù.
     Chặt cây không nên để lại rễ, không nên tiếp cận với tai hoạ, tai hoạ sẽ không tồn tại.
     Con người nếu muốn tránh tai hoạ, hoặc là trừ ác tận gốc, hoặc là tránh xa nó.

Hàn Phi Tử (Chiến Quốc)      

Bài 69
Lấy đức báo đức

     Làm việc cho người quân tử dễ, nhưng rất khó làm cho họ ưa thích. Không dùng chính đạo để làm vừa lòng họ thì họ sẽ không vừa lòng. Khi họ sử dụng người, họ sẽ căn cứ theo tài năng của mỗi người để sử dụng hợp lý. Làm việc cho kẻ tiểu nhân rất khó nhưng rất dễ lấy lòng họ. Cho dù phương pháp không chính đáng để làm vừa lòng họ, họ cũng ưa thích. Khi họ sử dụng người, họ lại cầu toàn trách bị.
    Quân tử kính trọng hiền nhân đồng thời cũng kết giao với người bình thường, ca ngợi người lương thiện nhưng cũng đồng tình với người không có tài năng. Quân tử ghét loại người cố tìm cách che dấu lòng tham. Phụng hầu người quân tử dễ mắc phải ba sai lầm: lời người quân tử chưa nói ra mà bạn đã tranh nói, gọi là hấp tấp; người quân tử đã nói rồi mà bạn vẫn chưa nói, gọi là che giấu; không nhìn sắc mặt người quân tử đã tuỳ tiện nói, gọi là đui mù.
    Yêu người nào thì thích họ trường thọ, giận người nào thì cầu họ chết sớm. Vừa mong họ trường thọ, lại cầu họ chết sớm, như vậy chính là không phân biệt được thị phi. Người mà mọi người căm ghét không hẳn là xấu, nhất định cần phải xem xét lại; người mà mọi người yêu thích không hẳn là tốt, cũng nhất định cần phải xem xét lại.
    Nên dùng chính trực để báo đáp oán hận, dùng ân đức để báo đáp ân đức.
    Không suy đoán người khác dối trá với mình trước khi sự việc xẩy ra, không tuỳ tiện hoài nghi người khác không coi trọng chữ tín đối với mình, nhưng vẫn sớm nhận ra vấn đề, đây chính là bậc hiền nhân. Người bên ngoài nghiêm khắc mà bên trong yếu mềm, được ví với loại người xấu. Nghe tin đồn giữa đường lại đi lan tin ra khắp nơi, điều này là trái với đạo đức, không thể chấp nhận.
    Ba loại bạn có ích, ba loại bạn có hại. Kết bạn với người chính trực, kết bạn với người thành thực, kết bạn với người hiểu biết rộng, là có ích; kết bạn với người a dua nịnh hót, kết bạn với người nói tốt trước mặt nói xấu sau lưng, kết bạn với người lời ngon tiếng ngọt, là có hại.
    Ba loại khoái lạc là có ích, ba loại khoái lạc là có hại. Lấy lễ nhạc tiết chế bản thân làm khoái lạc; lấy ca ngợi chỗ tốt của người khác làm khoái lạc; lấy quan hệ với nhiều bạn hiền làm khoái lạc, là có ích. Lấy kiêu ngạo phóng túng làm khoái lạc; lấy ngao du an nhàn làm khoái lạc; lấy ăn uống tìm vui làm khoái lạc, là có hại.
    Những người suốt ngày tụ tập nói chuyện không liên quan đến đạo nghĩa, chỉ thích khoe khôn, loại người này rất khó làm nên việc. Lời nói hợp với chính đạo há không nghe theo sao? Nhưng nghe xong phải sửa chữa sai lầm mới đáng quý. Lời nói cung kính khen ngợi, nghe xong há không cao hứng sao? Nhưng phải đối đãi lại nó chính xác mới đáng quý. Chỉ cao hứng mà không đối đáp chính xác, chỉ nghe mà không sửa chữa sai lầm, đối với loại người này quả thực không còn cách nào hơn.
    Động viên lẫn nhau, cư xử hoà thuận, người như vậy có thể gọi là kẻ sĩ. Giữ bạn bè phải khuyến khích lẫn nhau, giữ anh em phải hoà thuận.
    Quốc gia nền chính trị trong sáng, lời nói và hành vi đều nên chính trực; quốc gia nền chính trị đen tối, hành vi chính trực nhưng lời nói nên dè dặt cẩn thận.

Khổng Tử (Xuân Thu) 

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

SƠ ĐỒ TRANG WEBSITE DÒNG HỌ KIM

Sơ đồ trang Web "Dòng Họ Kim".

 

  1. SƠ ĐỒ TRANG WEBSITE DÒNG HỌ KIM 
  2. SƠ ĐỒ CÁC CÀNH, NHÁNH CHI HỌ KIM
  3. GIỚI THIỆU GIA PHẢ 
  4. MỘ PHẦN CỤ KIM NHÂN HƯNG 
  5. NHÀ THỜ CỤ THƯỢNG TỔ HỌ KIM 
  6. ĐỜI SỐ MỘT - CỤ THƯỢNG TỔ 
  7. HỌ KIM LÀNG YÊN LẠC 
  8. ĐỜI THỨ MỘT, CHI BỐN, LÀNG YÊN LẠC: 
  9. CÀNH MỘT 
  10. CÀNH HAI 
  11. Chi tiết : CÀNH MỘT, NHÁNH MỘT 
  12. CON CHÁU CỤ PHA - HIỆU DIỆU THE 
  13. CON CHÁU CỤ TIÊU - HIỆU DIỆU HÌNH 
  14. Chi tiết: CÀNH MỘT, NHÁNH HAI 
  15. CỤ HUY 
  16. CỤ HUYÊN 
  17. CỤ HÀN 
  18. CỤ HY 
  19. CHI TIẾT CÀNH HAI 
  20. CHI TIẾT CÀNH HAI, NHÁNH MỘT - CON CHÁU CỤ MÃNG 
  21. HỘ CỤ CÁT 
  22. HỘ CỤ THIỆU 
  23. CÀNH HAI, NHÁNH HAI: CÁC CON CỤ NHẤT; HỘ CỤ HUÂN 
  24. HỘ CỤ HỀ 
  25. HỘ CỤ BÂN 
  26. CÀNH HAI NHÁNH BA, CÁC CON CỤ MÀN; HỘ CỤ VẠN 
  27. CHI TIẾT CÀNH HAI NHÁNH BỐN; HỘ CỤ HÀM 
  28. HỘ CỤ DƯƠNG 
  29. HỘ CỤ DÊ 
  30. HỘ CỤ NGỮ 
  31. CÀNH HAI NHÁNH 5; HỘ CỤ TẶNG 
  32. CÀNH HAI NHÁNH 6; HỘ CỤ ÉN 
  33. Bài 41: SƠ ĐỒ TRANG WEBSITE DÒNG HỌ KIM 
  34. Bài 39: GIỚI THIỆU VỀ LÀNG YÊN LẠC 
  35. Bài 25: Phương pháp giáo dục con trẻ kiểu con gà! 
  36. Bài 24: Vẻ đẹp tuyệt vời trong tình yêu! 
  37. Bài 23: Nhận biết một con người tốt! 
  38. Bài 22: Chúc rượu là một cử chỉ văn hoá đẹp đẽ của... 
  39. Bài 3: Kim Ngọc - Bí thư tỉnh ủy đổi mới táo bạo
  40. Bài 2: Giới thiệu Phạm Công Bình, danh nhân văn hóa quê hương
  41. Bài 1: Ảnh lưu về Gia phả "Dòng Họ Kim"